Tìm kiếm
Tìm tin tức
Tìm sản phẩm
Liên kết website
Tin tức
Sự cố biển có thể xấu do Bắc Kinh không chắc, không tĩnh

Một điểm khởi đầu để đánh giá thái độ của Trung Quốc về CBMs an ninh là "Sách trắng Quốc phòng 2010 của Trung Quốc", công bố đầu năm 2011, cuốn sách tự chào là một hành động cải thiện sự minh bạch. Nhìn bề ngoài, tài liệu này nêu ra nhiều cách đa dạng, trong đó Bắc Kinh đã tăng cường cam kết an ninh và đối thoại với các nước khác kể từ những năm 2009. Cuốn sách nêu rõ Trung Quốc sẵn sàng và mong muốn cam kết với các nước khác về một loạt CBMs trực tiếp và gián tiếp, bao gồm cả các biện pháp liên quan đến các sự cố biển tiềm ẩn.

Nhưng nếu chú ý kỹ hơn vào sắc thái nghĩa của văn bản và sự mâu thuẫn của nó, có thể thấy rằng không phải như vậy. Tài liệu này nói nhiều về các cuộc đối thoại và tham vấn với nước khác - trong đó có Mỹ, Nhật Bản và Ấn Độ - và gợi ý sẵn sàng tiến hành đối thoại với các nước láng giềng về "các vấn đề nóng trong khu vực". Nhưng nó cũng nhấn mạnh rằng "niềm tin chính trị lẫn nhau" nên là "nền tảng" cho CBMs, ý nói đây phải là một điều kiện tiên quyết chứ không phải là mục đích của CBMs. Hơn nữa, xây dựng niềm tin quân sự "nên dựa trên... sự tôn trọng các lợi ích cốt lõi của nhau" - có nghĩa là các bất đồng về các vấn đề như quy chế của Đài Loan, hay các tuyên bố chủ quyền lãnh hải của Trung Quốc, cần được nhất trí với các cường quốc khác trước khi muốn có CBMs quân sự một cách nghiêm túc với Trung Quốc.

Sách Trắng cũng miêu tả sự khác biệt lớn giữa các vấn đề biển và đất liền. Tài liệu nêu rõ rằng Bắc Kinh ủng hộ "các biện pháp xây dựng niềm tin ở khu vực biên giới" và "tránh các hoạt động quân sự nguy hiểm" cũng như "duy trì hòa bình và ổn định trên biên giới". Câu này muốn nói tới các thỏa thuận CBMs chính thức với nhiều nước láng giềng có biên giới chung trên bộ, đáng kể là thỏa thuận giảm lực lượng với Nga và các thành viên khác trong Tổ chức Hợp tác Thượng Hải, cũng như CBMs quân sự về Đường Kiểm soát Thực tế, bao gồm đa phần đường biên giới với Ấn Độ. Nhưng phần nói tới CBMs trên biển không nhiều, vừa cho thấy sự ít ỏi trong những thành quả đã đạt được cũng như sự miễn cưỡng hết sức của Bắc Kinh. Nhiều điều đã đạt được từ MMCA với Mỹ năm 1998, với tuyên bố là các cuộc họp được tổ chức dưới MMCA đã góp phần vào "sự an toàn của các hoạt động trên biển và tránh tai nạn".

Tài liệu này cũng nói rất ít về cách giải quyết căng thẳng với Nhật Bản, ngoài việc ghi nhận rằng từ năm 2008 Bắc Kinh và Tokyo "đã tổ chức vài cuộc tham vấn về thiết lập một cơ chế liên lạc trên biển". Đây là một cách nói thận trọng hơn so với các bài báo trước đó nói rằng các "đường dây nóng" cấp quân sự và lãnh đạo sắp được thực hiện.

Phần dành cho quan hệ biển với Hàn Quốc trong Sách Trắng của Trung Quốc tỏ ra tích cực hơn: ghi nhận việc thiết lập các đường dây điện thoại trực tiếp giữa các đơn vị hải quân và không quân Trung Quốc đóng trong khu vực chồng lấn. Về Việt Nam, Sách Trắng nhấn mạnh tới một thỏa thuận năm 2005, văn bản đã dẫn tới hoạt động tuần tra kết hợp trên biển hai lần/năm, song không nhắc gì tới việc đã xảy ra các sự cố trên biển giữa các tàu của Trung Quốc và Việt Nam dọc tuyến tuần tra này, cũng như sự mất tín nhiệm sâu sắc giữa hai bên về biển Đông nói chung. Trong khi đó, Sách Trắng không nói gì trực tiếp tới quan hệ Trung - Ấn trên biển.

Quan điểm 2 của Trung Quốc: các tư tưởng đối lập

Tư tưởng chính sách của Bắc Kinh về an ninh biển vừa không chắc chắn và không tĩnh. Đôi khi có những cuộc thảo luận nghiêm túc giữa các chuyên gia, các nhà quân sự và hoạch định chính sách.

Gần đây, các học giả phương Tây đã nhấn mạnh đến một loạt quan điểm đối lập và các tác nhân trong quá trình hoạch định chính sách đối ngoại của Trung Quốc, và các cuộc tranh cãi ở một mức độ nào đó của các tác giả nghiên cứu về câu hỏi liệu có hay không và làm thế nào để cam kết với các cường quốc khác, đặc biệt là Mỹ và Nhật Bản, trong việc quản lý hoặc tránh các sự cố biển.

Hơn nữa, chính sách của Bắc Kinh cho thấy một số dấu hiệu điều chỉnh theo các sức ép và kỳ vọng từ bên ngoài: ví dụ, tuyên bố giữa năm 2011 của Bộ trưởng Quốc phòng Lương Quang Liệt, người đã dùng cụm từ "uy tín bắt đầu với cam kết" chứng tỏ một động thái đáng ngạc nhiên so với quan điểm đang thịnh hành ở Trung Quốc là uy tín nên tạo nền tảng cho cam kết. Phát biểu này là một trong những tuyên bố công khai tinh vi hơn của chính sách quốc phòng và an ninh Trung Quốc - lựa theo sự nhạy cảm ngoại giao bên ngoài - và phù hợp với các đánh giá rằng Bắc Kinh thấy cần thay đổi hình ảnh bị hoen ố của mình sau xáo trộn trên biển năm 2010.

Sự thay đổi này được hỗ trợ bởi việc Bắc Kinh - bên cạnh các sự cố liên tiếp trên biển - lại thực hiện một số nỗ lực ngoại giao nhằm nối lại đối thoại với các quốc gia Đông Nam Á về vấn đề biển Đông, đáng kể có việc thực hiện và có thể là củng cố một tuyên bố năm 2002 được cho là hướng tới một bộ quy tắc ứng xử. Có thể hiểu điều này là Bắc Kinh đang tìm cách phá hoại tình đoàn kết ngoại giao mà Mỹ và các nước ASEAN đã thể hiện trong vấn đề biển Đông tại các diễn đàn khu vực năm 2010.

Nhưng mặt khác, các sự kiện trong những năm gần đây cho thấy những cuộc đấu tranh bên trong Trung Quốc về cam kết, đối thoại và xây dựng niềm tin không mạnh mẽ. Sau các sự kiện như sự cố Impeccable, và thái độ bàng quan của Trung Quốc với vụ chìm tàu Cheonan của Hàn Quốc, rồi vụ các máy bay trực thăng PLA-N quấy rối tàu chiến Nhật Bản và việc PLA từ chối đối thoại quân sự với Mỹ về căng thẳng trong năm 2010, thì không có gì đáng ngạc nhiên khi một số quan sát viên nước ngoài kết luận rằng các nỗ lực thêm nữa theo hướng cam kết và xây dựng niềm tin với Trung Quốc sẽ chỉ là vô ích. Bất cứ cố gắng nào của Bắc Kinh nhằm cải thiện hình ảnh của mình sau một loạt tai nạn bất ngờ trong năm 2010 sẽ cần phải đi xa hơn là các ngôn từ. Sự thận trọng như vậy là dễ hiểu.

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các kết luận quan trọng dưới đây về thái độ của Trung Quốc đối với mục đích, triển vọng và giới hạn của các CBMs trên biển với các nhà cạnh tranh chiến lược tại Ấn Độ - châu Á Thái Bình Dương:

Có một cuộc tranh luận bên trong Trung Quốc về giá trị và cách thức tiến hành CBMs trên biển và CBMs nói chung: Cuộc tranh luận này diễn ra giữa các nhà hoạch định chính sách và giới quân sự, nhưng cũng ảnh hưởng và chỉ đạo các chuyên gia cố vấn và các thể chế nghiên cứu, đôi khi cả dư luận. Lập luận ôn hòa trong cuộc tranh luận này thừa nhận sự cần thiết phải cân nhắc CBMs, đặc biệt là đối thoại, song còn hoài nghi về tính hiệu quả của chúng.

Một chuyên gia Trung Quốc giải thích với chúng tôi rằng dù thiếu bằng chứng về giá trị của quan hệ quân sự Mỹ - Trung nhưng vẫn có một quan điểm chung ở Bắc Kinh cho rằng một quan hệ như vậy là hữu ích, kể cả trong việc kiểm soát khủng hoảng. Một chuyên gia khác người Trung Quốc cho biết sự tiến thoái lưỡng nan chính trong cuộc tranh luận, về các lợi ích quốc gia của Trung Quốc, là để giảm nguy cơ xung đột thì các nước cần kiềm chế, tuy nhiên Bắc Kinh không thể chịu được cảnh bị lép vế trước sức ép bên ngoài. Bởi làm như vậy sẽ cho phép các nước ngoài có lợi thế hơn Trung Quốc và cũng sẽ làm suy yếu quyền lực của Chính phủ Trung Quốc ở trong nước, từ đó hủy hoại sự phát triển của đất nước.

Những người cứng rắn đang giành lợi thế trong cuộc tranh luận: quan điểm chính thức của Trung Quốc và cách hành động của họ rõ ràng cho thấy cuộc tranh luận hiện nay đang thiên về một quan điểm phản đối một lịch trình tham vọng về CBMs trên biển tại châu Á. Đây là thay đổi đáng chú ý về phát ngôn xuất hiện trong tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng Trung Quốc hồi tháng 6/2011 nói ở trên.

Trong thời gian tới, Trung Quốc không tìm cách lặp lại các căng thẳng năm 2010: Nhiều chuyên gia phân tích Trung Quốc lo ngại rằng những hỗn loạn về an ninh biển trong năm 2010 không có lợi cho Trung Quốc và cho rằng khu vực này không thể chịu nổi những căng thẳng như vậy tiếp diễn. Một chuyên gia nói: Hiện chúng ta cần một thời kỳ yên ắng, không xảy ra sự kiện... Cần giữ tình hình êm dịu. Tức là không có tập trận và không có các phát ngôn khiêu khích thêm nữa từ cả hai phía. Có lẽ Trung Quốc không muốn thêm rắc rối về an ninh biển, ít nhất cho tới khi diễn ra cuộc chuyển giao lãnh đạo vào năm 2012.

Quan điểm đang thịnh hành ở Trung Quốc là CBMs trực tiếp trên biển chỉ có thể diễn ra khi đạt tới một mức tín nhiệm chiến lược nào đó: Một học giả cấp cao và cựu tướng của PLA nói rằng: "nếu Mỹ, trong suy nghĩ chiến lược của mình, vẫn xem Trung Quốc là một vật thay thế Liên Xô hoặc một kẻ thù chiến lược tiềm ẩn cần đối phó, thì quan hệ quân sự song phương sẽ khó có thể cải thiện, và các va chạm giữa hai bên sẽ tiếp tục". Theo quan điểm có vẻ nghịch lý này, dường như Trung Quốc sẽ cởi mở với các dạng CBMs hiệu quả nhất, nhưng chỉ khi chúng không còn cần thiết nữa.

Tình huống này (tức là tin nhau trước, cam kết sau) ngược lại với quan điểm của Washington, hoặc ít nhất là với logic bình thường của CBMs tại nhiều nước trên thế giới. Logic trên, được rút ra từ kinh nghiệm của chiến tranh Lạnh tại châu Âu, và giữa Mỹ với Liên Xô, theo đó CBMs có thể và nên ưu tiên hơn bất cứ biện pháp nào khác giải quyết các bất đồng chiến lược, và trên thực tế chúng có thể giúp chính các biện pháp đó giải quyết được vấn đề.

Nhưng Bắc Kinh có thể mềm dẻo hơn khi thấy rằng điều này phù hợp với lợi ích của họ. Các hoạt động ngoại giao với các nước láng giềng trên bộ trong nhiều thập kỷ qua cho thấy Bắc Kinh đôi khi sẵn sàng theo đuổi CBMs như một cách để xây dựng lòng tin chứ không đơn giản chỉ phản ánh nó. Hơn nữa, một số chuyên gia Trung Quốc cho rằng các bất đồng Mỹ - Trung không thực sự liên quan đến vị trí ưu tiên của uy tín và CBMs, mà đến việc xác định kiểu niềm tin nào đang được tìm kiếm, một niềm tin mang tính chiến thuật (theo quan điểm của Mỹ) hay chiến lược và chính trị (theo quan điểm của Trung Quốc).

Nhưng các học giả khác của Trung Quốc lại cho rằng Mỹ không hề thỏa hiệp với các lợi ích liên quan đến chủ quyền và quyền tự quyết của Trung Quốc đối với Đài Loan, vì vậy không giúp tạo ra niềm tin chiến lược để có thể dẫn tới một quan hệ quân sự hợp tác hoặc tin cậy. Một chuyên gia viết: "Vấn đề Đài Loan vẫn là trọng tâm. Nếu vấn đề này được giải quyết thì mọi vấn đề khác với Mỹ, trong đó có các quan hệ giữa hai quân đội, đều có thể thương thảo được. Vì vậy để cuộc đối thoại giữa quân đội Mỹ với quân đội Trung Quốc thực sự có tác động, cần giải quyết các vấn đề chính yếu này".

Trung Quốc định nghĩa niềm tin chiến lược bao gồm sự chấp nhận của các cường quốc khác đối với các "lợi ích cốt lõi" tự quyết của Trung Quốc, các yêu sách lãnh thổ và cách hiểu của nước này về UNCLOS: Điều này có nghĩa là sẽ cực kỳ khó đạt được các CBMs trực tiếp hiệu quả nếu thiếu một hoặc nhiều thay đổi cơ bản trong chính sách châu Á của Mỹ: đáng kể nhất là phải chấm dứt việc bán vũ khí cho Đài Loan và ngừng thu thập thông tin tình báo trong Vùng Đặc quyền kinh tế (EEZ) của Trung Quốc.

Có ít dấu hiệu cho thấy Trung Quốc mong muốn một thỏa thuận INCSEA: Sự ảnh hưởng lẫn nhau của các sự cố biển mạo hiểm và các cuộc tranh chấp chủ quyền gay gắt, cộng thêm một yếu tố không có trong quá trình theo đuổi CBMs Mỹ - Liên Xô, là trở ngại lớn cho bất cứ thỏa thuận INCSEA nào giữa Mỹ và Trung Quốc, ngay cả khi có lợi ích về nguyên tắc ở một trong hai hoặc cả hai quốc gia theo đuổi nó. Trong quá trình tham vấn của chúng tôi, không chuyên gia nào của Trung Quốc nêu ý tưởng về một thỏa thuận INCSEA giữa Trung Quốc với bất kỳ quốc gia nào khác.

Việc Trung Quốc có vẻ không quan tâm tới một thỏa thuận như thế với Mỹ có thể giải thích bởi bản chất không thể thỏa hiệp của các bất đồng chiến lược giữa họ - như vấn đề quy chế của Đài Loan và các hoạt động của Mỹ tại EEZ của Trung Quốc - và bởi thực tế là bất chấp điều này, quan hệ quân sự của họ không hoàn toàn hay đơn thuần là một quan hệ thù địch. Liên Xô và Mỹ từng là kẻ thù của nhau. Dù cả Mỹ và Trung Quốc đều tuyên bố các mục tiêu của hợp tác an ninh, Bắc Kinh cũng không hào hứng trong đàm phán về một thỏa thuận gợi lại một thỏa thuận giữa các kẻ thù - dù một thỏa thuận như vậy có thể giúp ổn định các lợi ích.

Nhưng một số người khác đưa ra một quan điểm khác hoặc ít nhất là mang sắc thái khác: Bên cạnh tuyên bố hồi giữa năm 2011 của Bộ trưởng Quốc phòng rằng "niềm tin bắt đầu với cam kết", một học giả Trung Quốc gần đây cho rằng việc Mỹ thu thập thông tin tình báo tại EEZ của Trung Quốc không nên trở thành trở ngại chính cho việc đạt thỏa thuận về CBMs trên biển. Tuy nhiên, có ít dấu hiệu cho thấy quan điểm này đang được chuyển thành một sự giảm nhẹ về chính sách ở Bắc Kinh. Tuyên bố của Bộ trưởng Quốc phòng không đi cùng với bất kỳ động thái cụ thể nào hướng tới thỏa thuận về CBMs mới với Mỹ, và được đưa ra vào đúng trong thời gian diễn ra loạt sự cố trên biển Đông.

Đối thoại là cần thiết và việc ngừng các hội đàm quốc phòng được thừa nhận là một ý tưởng xấu: Các cuộc tiếp xúc quân sự có xu hướng là kênh ngoại giao đầu tiên bị đổ vỡ - bởi một trong hai bên - trong thời gian diễn ra các cuộc khủng hoảng lớn trong quan hệ Mỹ - Trung. Nhiều năm gần đây, chính Bắc Kinh đã tuyên bố ngừng các cuộc gặp này. Nhưng ngày càng nhiều người trong giới chuyên gia an ninh Trung Quốc - trong đó có PLA - thừa nhận rằng Trung Quốc không có lợi khi ngừng đối thoại quân sự với Mỹ mỗi khi Bắc Kinh cần thể hiện sự phản đối một chính sách nào của Mỹ đối với một "lợi ích cốt lõi" như Đài Loan.

Nhưng điều đó không có nghĩa là việc Trung Quốc ngừng đối thoại quân sự với Mỹ là một việc chỉ diễn ra trong quá khứ: Các chuyến thăm của quan chức quốc phòng cấp cao và đối thoại được nối lại, một cách thận trọng, vào cuối năm 2010. Nhưng đây có thể chỉ là vấn đề thời gian, trước khi Bắc Kinh cảm thấy bị buộc phải ngừng đối thoại một lần nữa. Như một số chuyên gia phân tích của Trung Quốc đã chỉ ra, khó tìm ra một biện pháp thay thế để bày tỏ sự tức giận.

Họ nói: "Đúng là quan hệ quân sự Mỹ - Trung chịu gánh nặng của các căng thẳng chính trị. Dễ dàng cắt các quan hệ này vì chúng ta không hội nhập nhiều trong lĩnh vực này. Ngược lại, chúng ta không thể trừng phạt nhau về kinh tế, vì chúng ta đã quá phụ thuộc lẫn nhau". Và một chuyên gia phân tích quân sự nhận định: "Chúng ta không nên ngừng các trao đổi quân sự với Mỹ mỗi khi thấy không hài lòng... Nhưng chúng ta không có cách nào khác để bày tỏ sự tức giận. Vấn đề là chúng ta không muốn làm tổn thương đến các lợi ích kinh tế của chúng ta. Và quân đội Mỹ là một giải pháp thay thế, ngừng một số trao đổi quân sự chứ không cắt đứt quan hệ này hoàn toàn".

Thái độ xác quyết trên biển một phần là nhằm hướng tới dư luận trong nước: Một loạt các nguồn tin Trung Quốc nói rằng các hành động và tuyên bố của Trung Quốc đòi chủ quyền trên biển được xem là cần thiết để bảo vệ các lợi ích quốc gia, và chứng tỏ cho dư luận trong nước thấy rằng các lợi ích và uy tín của quốc gia đang được bảo vệ. Theo logic này, việc Mỹ thu thập thông tin tình báo trên biển tại EEZ của Trung Quốc bị xem là một hành động tiếp tục sự sỉ nhục lịch sử đối với Trung Quốc - không thể tha thứ được vì các lý do chính trị cũng như quân sự. Nếu đúng như vậy, thì các sự việc Trung Quốc định kỳ quấy nhiễu trên biển dường như còn tiếp diễn, bất chấp nguy cơ.

Thái độ xác quyết trên biển có thể phù hợp với ổn định, ngay cả khi các bên đều có thái độ này: một dòng suy nghĩ trong giới an ninh của Trung Quốc cho rằng cảnh báo về các sự cố biển là thái quá, và các bên cùng thể hiện xác quyết có thể nhằm răn đe lẫn nhau hơn là gây xung đột. Một chuyên gia Trung Quốc gợi ý: "Mềm nắn rắn buông, nếu chúng ta có một thái độ chắc chắn thì Mỹ sẽ phải mềm mỏng và cũng dễ hiểu nếu Mỹ làm như vậy, chúng ta sẽ phải mềm hơn".

Trung Quốc ý thức rõ rằng giá trị tạo ổn định của CBMs gián tiếp liên quan đến hợp tác về các vấn đề an ninh xuyên quốc gia hiện rất hạn chế: Dù các phát ngôn chính thức là gì, vẫn có nhiều nhà tư tưởng an ninh của Trung Quốc hoài nghi về việc sự hợp tác trong vấn đề xuyên quốc gia hoặc phi truyền thống - như chống hải tặc và cứu hộ thiên tai - có thể giúp hướng tới xây dựng niềm tin trong các bất đồng an ninh giữa các quốc gia hay không.

Trung Quốc vẫn rất nhạy cảm với bất kỳ gợi ý nào cho rằng các diễn đàn đa phương nên thảo luận về các tranh chấp hay sự cố biển: một chuyên gia Trung Quốc phân tích rằng Mỹ đã muốn thảo luận về biển Đông tại Hội nghị Bộ trưởng Quốc phòng ASEAN +8. Trung Quốc dọa sẽ không tham dự nếu biển Đông được đưa ra thảo luận. Và nếu Trung Quốc không có mặt trong hội nghị, thì đó sẽ là một thất bại của các thể chế an ninh khu vực. Những cuối cùng biển Đông không nằm trong nghị trình, và Trung Quốc đã tham gia... Vấn đề an ninh truyền thống nên được giải quyết song phương.

Các sức ép thể chế, tham vọng cá nhân và các hành động độc lập của những người thích mạo hiểm trong PLA là một phần của vấn đề: Những lo ngại này được một loạt các chuyên gia Trung Quốc đưa ra với các nhà nghiên cứu nước ngoài. Một số thừa nhận rằng Trung Quốc đã không thể đưa ra lời giải thích công khai và thuyết phục cho vụ máy bay trực thăng của mình bay ngay phía trên các tàu của Nhật Bản.

Trung Quốc vẫn thấy không cần vội vàng làm dịu quan điểm của mình về quan hệ biển với Nhật Bản: Bất chấp số vụ chạm trán trên biển với Nhật Bản ngày càng nhiều, cơ quan an ninh Trung Quốc dường như không sẵn sàng áp dụng CBMs mới trong tranh chấp ở biển Hoa Đông. Theo sự tìm hiểu của chúng tôi, PLA lo ngại hơn về việc khôi phục cam kết với các đối tác Mỹ hơn là với các đối tác Nhật Bản. Không có cách giải thích nào cho thấy nguyên nhân hay mục đích của việc nhiều máy bay trực thăng Trung Quốc bay rất gần các tàu chiến của Nhật. Trung Quốc sẵn sàng phát triển CBMs trên biển với các láng giềng khác hơn là với Nhật Bản.

Các bất đồng với Ấn Độ trong vai trò cường quốc biển đang giảm dần: Các quan điểm ở Bắc Kinh không giống nhau về việc liệu có nên và làm thế nào để cam kết với Ấn Độ trong các vấn đề an ninh biển. Trong các cuộc tham vấn của chúng tôi, một số chuyên gia cho biết các căng thẳng an ninh giữa Ấn Độ và Trung Quốc diễn ra trên bộ nhiều hơn trên biển. Đông đảo chuyên gia cũng nhấn mạnh rằng sự chú ý trước mắt của Trung Quốc về an ninh biển vẫn chủ yếu tập trung vào các vùng biển Đông Á đang tranh chấp.

Tuy nhiên, ngày càng có nhiều người thừa nhận sự cần thiết phải tìm ra cách thức để cam kết với Ấn Độ: một số chuyên gia công nhận rằng các năng lực vượt trội về quân sự của Ấn Độ tại Ấn Độ Dương, và quan hệ của họ với Mỹ, đã khiến New Delhi trở thành một tác nhân an ninh quan trọng hơn trước đây mà Bắc Kinh nên giao thiệp. Họ cho rằng các mối lo ngại về biển của Trung Quốc với Ấn Độ là về các mục đích rõ ràng của Ấn Độ muốn hất cẳng các cường quốc khác khỏi Ấn Độ Dương, cũng như về khả năng hoạt động của hải quân Ấn Độ trong vai trò một đối tác của Mỹ tại Đông Á trong tương lai.

Một số chuyên gia Trung Quốc thừa nhận rằng Trung Quốc phải trấn an Ấn Độ về mục tiêu của việc Bắc Kinh khi huy động hải quân (chống cướp biển) tại Ấn Độ Dương. Họ thậm chí gợi ý rằng Trung Quốc và Ấn Độ nên thiết lập một dạng đối thoại an ninh biển, nhằm bổ sung cho các đường dây liên hệ quốc phòng khiêm tốn hiện nay.

Chống lại thủy triều?

Các quan điểm của Trung Quốc về căng thẳng an ninh biển và CBMs rất phức tạp nên không thể giải thích bằng một lập luận đơn giản về xác quyết chiến lược. Giới chức an ninh ở Bắc Kinh không phải là không nghĩ đến khả năng các sự cố biển có thể leo thang, hoặc sự cần thiết của một kiểu biện pháp giảm nguy cơ. Nhưng các mức độ lo ngại khác nhau, và không giống với các mối lo ngại quyết định chính sách của Mỹ hay Nhật Bản.

Ngược lại, Bắc Kinh dường như đã quyết định sẵn sàng chịu đựng - và đôi khi chủ ý đóng góp vào - một nguy cơ xảy ra xung đột bất ngờ mà các nước khác cho là cao đến mức đáng lo ngại. Một câu hỏi lớn đặt ra là liệu các nhà hoạch định chính sách hàng đầu tại Bắc Kinh - quân sự và dân sự - có thể bị thuyết phục bởi sự cần thiết phải ưu tiên các biện pháp thực tế nhằm tránh các sự cố bạo lực trên biển hay không. Tình hình hiện nay không mấy hứa hẹn dù có thể đạt một số tiến bộ.

Video
  • Khánh thành Công ty LD phân bón Hữu Nghị
  • Giới thiệu Công ty LD phân bón Hữu Nghị
  • Giới thiệu Nhà máy phân bón Hàm Rồng
  • Công ty nước mắm Thiên Hương
Giải thưởng
Giải vàng chất lượng việt nam

Giải vàng chất lượng việt nam
Huân chương lao động hạng Nhất

Huân chương lao động hạng Nhất
Huân chương lao động hạng Nhì

Huân chương lao động hạng Nhì
Huân chương lao động hạng Ba

Huân chương lao động hạng Ba
Cuộc thi sáng tạo KT toàn quốc

Cuộc thi sáng tạo KT toàn quốc
Cup vàng sản phẩm hàng hóa tiêu biểu

Cup vàng sản phẩm hàng hóa tiêu biểu
Cup

Cup
Quả cầu vàng

Quả cầu vàng
Quả cầu vàng 2008

Quả cầu vàng 2008
Tổng Công ty cổ phần Hàm Rồng Thanh Hóa

Phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa
ĐT: 84 37 3960304 - Fax: 84 37 3960313
Email: hamrongcorp@vnn.vn
Download tải phần khi c mềm download phần mềm bạn download cc idm tốt nhất download idm v trnh duyệt web firefox nhanh download firefox